Bộ Y tế ban hành quy định mới nhất về dỡ bỏ cách ly cho F0 điều trị tại nhà

2022-01-30 10:16
- Trong hướng dẫn mới, Bộ Y tế quy định, F0 điều trị tại nhà đủ 7 ngày, nếu xét nghiệm âm tính sẽ được dỡ bỏ cách ly.

Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định 250/QĐ-BYT về việc “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19“, thay thế cho hướng dẫn ban hành trước đó tại Quyết định 4689 ngày 6/10/2021 và Quyết định số 5666/QĐ-BYT ngày 12/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế, về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 ban hành kèm theo Quyết định số 4689/QĐ-BYT.

Tại Hướng dẫn mới nhất này, Bộ Y tế đã bổ sung tiêu chuẩn dỡ bỏ cách ly với người nhiễm COVID-19 điều trị tại nhà. Cụ thể:

Người bệnh COVID-19 không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ đủ điều kiện cách ly, điều trị tại nhà theo quy định sẽ được dỡ bỏ cách ly, điều trị tại nhà.

Bộ Y tế ban hành quy định mới nhất về dỡ bỏ cách ly cho F0 điều trị tại nhà

– Cách ly, điều trị đủ 07 ngày và có kết quả test nhanh âm tính do nhân viên y tế hoặc người bệnh tự thực hiện dưới sự giám sát của nhân viên y tế bằng ít nhất một trong các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện từ xa.

– Trong trường hợp sau 07 ngày kết quả xét nghiệm còn dương tính thì tiếp tục cách ly đủ 10 ngày đối với người đã tiêm đủ liều vaccine và 14 ngày đối với người chưa tiêm đủ liều vaccine.

Trạm Y tế nơi quản lý người bệnh chịu trách nhiệm xác nhận khỏi bệnh cho người bệnh.

Cũng theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế có 5 mức phân loại bệnh đối với người mắc COVID-19, trong đó Bộ Y tế đã đưa nhóm F0 không triệu chứng vào mức đầu tiên.

Theo đó, F0 được xếp vào nhóm này nếu không có triệu chứng lâm sàng. Ngoài ra, nhịp thở < 20 lần/phút, SpO2 > 96% khi thở khí trời.

Quy định mới về 5 mức độ bệnh

Theo hướng dẫn mới nhất, Bộ Y tế quy định 5 mức độ phân loại bệnh COVID-19, gồm: không có triệu chứng lâm sàng, mức độ nhẹ, mức độ trung bình, mức độ nặng và mức độ nguy kịch.

Trước đó, hướng dẫn chẩn đoán và điều tri COVID-19 của Bộ Y tế chỉ phân loại các bệnh nhân COVID-19 theo 4 mức độ bệnh gồm nhẹ, trung bình, nặng và nguy kịch (các tiêu chí trong 4 mức độ này không có sự thay đổi). Như vậy, trong hướng dẫn mới của Bộ Y tế đã có thêm nhóm F0 không triệu chứng.

Người nhiễm không triệu chứng

F0 được xếp vào nhóm này nếu không có triệu chứng lâm sàng. Ngoài ra, nhịp thở của F0 < 20 lần/phút, SpO2 > 96% khi thở khí trời.

Mức độ nhẹ

F0 có các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, mất vị giác, khứu giác, tiêu chảy… Nhịp thở < 20 lần/phút, SpO2 > 96% (nồng độ oxy trong máu) khi thở khí trời. Bên cạnh đó, người bệnh cũng phải tỉnh táo, tự phục vụ được, x-quang phổi bình thường hoặc có nhưng tổn thương ít.

Mức độ trung bình

Đánh giá toàn trạng, người bệnh có các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như mức độ nhẹ. Về hô hấp, bệnh nhân có dấu hiệu viêm phổi, khó thở, thở nhanh 20-25 lần/phút, phổi có ran nổ và không có dấu hiệu suy hô hấp nặng, SpO2 94-96% khi thở khí phòng. F0 có thể khó thở khi gắng sức (đi lại trong nhà, lên cầu thang).

Mạch của người bệnh có thể nhanh hoặc chậm, da khô, nhịp tim nhanh, huyết áp bình thường, ý thức tỉnh táo. Ngoài ra, chụp x-quang ngực và cắt lớp vi tính ngực bệnh nhân phát hiện có tổn thương, tổn thương dưới 50%, siêu âm thấy hình ảnh sóng B, khí máu động mạch: PaO2/FiO2 > 300.

Mức độ nặng

Ở mức độ nặng, Bộ Y tế quy định F0 được phân loại thuộc nhóm nặng nếu hô hấp có dấu hiệu viêm phổi kèm theo bất kỳ một trong các dấu hiệu sau: nhịp thở > 25 lần/phút, khó thở nặng, co kéo cơ hô hấp phụ, SpO2 < 94% khi thở khí phòng.

Về tuần hoàn, nhịp tim người bệnh có thể nhanh hoặc chậm, HA bình thường hay tăng. Về thần kinh, người bệnh có thể bứt rứt hoặc lừ đừ, mệt, chụp x-quang ngực và cắt lớp vi tính ngực có tổn thương, tổn thương trên 50%, siêu âm thấy hình ảnh sóng B nhiều, khí máu động mạch: PaO2/FiO2 khoảng 200-300.

Mức độ nguy kịch

F0 thuộc nhóm nguy kịch có biểu hiện thở nhanh > 30 lần/phút hoặc < 10 lần/phút, có dấu hiệu suy hô hấp nặng, thở gắng sức nhiều, thở bất thường hoặc cần hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy dòng cao (HFNC), thở máy. Ý thức người bệnh giảm hoặc hôn mê.

Nhịp tim bệnh nhân có thể nhanh hoặc chậm, huyết áp tụt, tiểu ít hoặc vô niệu, kết quả x-quang ngực và cắt lớp vi tính ngực có tổn thương, tổn thương trên 50%, siêu âm hình ảnh sóng B nhiều, khí máu động mạch: PaO2/FiO2 < 200, toan hô hấp, lactat máu > 2 mmol/L.

AM (tổng hợp)

3 động tác kéo căng trước khi đi ngủ giúp bạn giảm cân siêu tốc